Hỏi đáp

Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ Bánh trôi nước Lớp 7

Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ Bánh trôi nước Lớp 7

Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ Bánh trôi nước của tác giả Hồ Xuân Hương có chứa các giá trị nghệ thuật sâu sắc và hiệu quả.

Trong chương trình ngữ văn lớp 7, “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương xuất hiện như một điểm nhấn, với cách tác giả sử dụng sâu sắc các biện pháp nghệ thuật, sử dụng nhuần nhị biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,… Hãy cùng tham khảo bài làm về: Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương ở phía dưới nhé.

Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ Bánh trôi nước Lớp 7

Bạn đang xem: Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ Bánh trôi nước Lớp 7

Biện pháp nghệ thuật trong bài thơ Bánh Trôi Nước

Tác giả – Tác phẩm

  • Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ sống ở cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XĨ, sinh ra tại trấn Nghệ An. Trong vòng cuộc xoay vần đầy nhiễu nhương cuối thế kỉ XVIII, Hồ Xuân Hương vẫn được biết đến là nữ tử có cuộc sống khá êm đềm, dù không bị quản nghiêm ngặt gia giáo; nhưng nữ sĩ vẫn là người mang tư chất trí tuệ, tài hoa. Bà được “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu đặt cho biệt hiệu “Bà chúa thơ Nôm”. Năm 2021 bà được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hoá thế giới” với một sự nghiệp đáng nể. Các tác phẩm của bà hầu hết đều là thơ, và viết bằng chữ Nôm. Phong cách thơ bà thể hiện rõ khao khát thoát khỏi dòng chảy chung cổ xưa của thi ca trung đại, là sự đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ tiếng nói của thời địa mình; là khao khát được bày tỏ lòng mình, bày tỏ cũng bậc cảm xúc như cách mà các nhà thơ hiện đại thế hệ sau sử dụng. Bà là người hiếu học, chăm tìm hiểu, quen biết với nhiều nhà văn nhà thơ thời ấy. Ấy vậy mà: “Hồng nhan thì bạc phận” con đường tình duyên, se sợi chỉ đỏ của bà lại không được suôn sẻ. Hai lần ông Tơ cùng Nguyệt lão se duyên, đều se bà là vợ lẽ, để rồi hạnh phúc chưa được bao đã vội tan.
  • Sự nghiệp của bà tiêu biểu với các tác phẩm hầu như được gom lại trong cuốn: “Xuân Hương thi tập”, văn bản đáng quý “Lưu hương ký”,… Các tác phẩm thơ của nữ sĩ luôn được cấu tạo theo thể: thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú. Đặc biệt, Hồ Xuân Hương sử dụng bút pháp điêu luyện và đặc sắc nhất đối với thơ chữ Nôm, thơ chữ Hán của bà cũng điêu luyện, nhưng chưa thực sự sánh bằng chữ Nôm. Không chỉ vậy, ý thơ của Hồ Xuân Hương còn thể hiện sự táo bạo, dù đó là điều cấm kỵ đối với lễ giáo đương thời. Cũng chính vì lẽ này, mà thơ nữ sĩ được xem là một hiện tượng độc đáo, kỳ thú của dòng thi ca cổ điển Việt Nam. Các đề tài sáng tác trong thơ Hồ Xuân Hương thường là: gia đình, quê hương, đất nước. Song, khi nhắc đến nữ sĩ, không thể không nhắc đến những tác phẩm thơ Nôm viết về số phận hẩm hiu, bất hạnh, kém may mắn, hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Tiếng thơ viết về người phụ nữ, nhưng thực chất cũng là tiếng lòng của bà về nỗi niềm mưu cầu hạnh phúc giữa chốn xã hội nhiều định kiến cổ hủ. 
  • Tác phẩm “Bánh trôi nước” ra đời là sự chiêm nghiệm cảm thông trước số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ của Hồ Xuân Hương. Bài thơ là sự cảm nhận sâu sắc của tác giả về số phân hẩm hiu, cơ cực của những người sống kiếp nông dân nghèo; đặc biệt, bà trân trọng và sẻ chia với số kiếp bấp bênh vô định của người phụ nữ bị xã hội cũ áp bức, bóc lột với những định kiến bất công, cổ hủ. Xã hội phong kiến hiện lên với tinh thần :trọng nam khinh nữ, với sự bất công của chế độ chàng ba thê bảy thiếp, còn nàng chỉ vỏn vẹn chung thuỷ với chàng. Chế độ bất công, cổ hủ ấy khiến người phụ nữ trở nên rẻ rúng, chịu cuộc sống không tình yêu thương chân chính, bị hắt hủi. Chính từ sự nhận định của bản thân về những khắc nghiệt ấy, Hồ Xuân Hương đã cho ra đời “Bánh trôi nước”, như một tiếng nói than thân cho người phụ nữ, để họ đáng được trân trọng.

Giá trị nội dung

“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” (Bêlinxki). Quả thật, thơ Hồ Xuân Hương chính là viết về cuộc đời bà, để rồi từ cuộc đời ấy, nghệ thuật mới sinh sôi. Bài thơ “Bánh trôi nước” mở ra với nhiều những tầng nghĩa hiện thực xen lẫn ẩn dụ. Để rồi qua từng lớp nhào nặn của chiếc bánh trôi, tầng lớp nghĩa của tác phẩm hiện lên ngày một rõ ràng và sâu sắc. Để từ chiếc bánh ấy, hình tượng người phụ nữ trong xã hội phong kiến hiện lên dần rõ rệt. Hình ảnh chiếc bánh trôi được bà tả trần thực đến tột cùng, cũng như sự đau đáu tình yêu thương đến tận cùng đau đớn của người phụ nữ trong tình yêu. 

Trong thời kì phong kiến, trong sự bất công và cổ hủ. Người con gái hiện lên đơn độc, không có chỗ dựa để nói lên tiếng nói chân chính trong tâm hồn. Để rồi, “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương ra đời là tiếng nói cảm thông cho số phận người phụ nữ, cũng là tiếng lòng khao khát được nói lên khát vọng yêu đích thực của nhân vật trữ tình. Thân phận người phụ nữ dưới ngòi bút và nỗi lòng sẻ chia của tác giả hiện lên với sự bất hạnh, sự tủi hổ, sự bất công trong tình cảm, và không thể làm chủ chính mình. Ấy vậy mà, chịu mọi khổ đau, bất công, chịu mọi lời định kiến, nhưng người con gái ấy vẫn son sắt, thuỷ chung. Đó cũng chính là vẻ đẹp đức hạnh của người phụ nữ, luôn sẵn sàng cam chịu bất công, chỉ mong nhận lại dù một chút tình thương.

Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương.

Trong bài thơ “Bánh trôi nước”, tác giả Hồ Xuân Hương sử dụng nhuần nhị các biện pháp tu từ như:

  • Nhân hoá: Cả bài thơ là sự nhân hoá tài tình của tác giả đối với hình ảnh bánh trôi nước, trở thành hiện thân sinh động cho người phụ nữ.
  • Ẩn dụ: Hồ Xuân Hương sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ nhằm mục đích mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói lên vẻ đẹp của người phụ nữ. Cũng như bánh trôi nước, chìm nổi vô định vẫn giữ vững vẻ đẹp thơm ngon. Người phụ nữ trong xã hội cũ cũng vậy, dù chìm nổi giữa những định kiến của xã hội vẫn một lòng son sắt thuỷ chung.
  • Thành ngữ: “Bảy nổi ba chìm”, được tác giả sử dụng như một phép nhấn mạnh về sự lênh đênh, bất định trong cuộc đời người phụ nữ.
  • Điệp từ: “vừa” nhấn mạnh vẻ đẹp ngoại hình lẫn tâm hồn của người phụ nữ.
  • Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng mô típ quen thuộc “thân em” nhằm nhấn mạnh nỗi bất hạnh của người phụ nữ, sự đau đớn trong họ đã được nhiều những tác phẩm khác đề cập đến.
  • Bài thơ còn sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Một thể thơ Đường luật với niêm luật chặt chẽ, tạo sự thành công cho thi phẩm.

=> Tóm lại, bài thơ “Bánh trôi nước” hiện lên với lớp nghĩa thực là tác giả miêu tả về bánh trôi, loại bánh cổ truyền của dân tộc, thứ bánh ấy vừa trắng trẻo, vừa mềm dẻo, vừa ngọt bùi thơm ngon. Để rồi từ sự khắc họa bánh trôi, Hồ Xuân Hương ẩn dụ để nói về thân phận người phụ nữ giữ dòng chảy của xã hội phong kiến, phải chịu những bất công, những khắc nghiệt. Đồng thời, bài thơ là sự cảm thông của tác giả với số kiếp hẩm hiu của người phụ nữ, song qua đó, tác giả cũng ca ngợi vẻ đẹp chân thành của người phụ nữ trong tình yêu.

Dàn ý phân tích tác phẩm: 

Hình ảnh bánh trôi nước:

  • Bánh trôi nước: Đây là một loại bánh đặc trưng của miền Bắc. Được làm bằng bột gạo nếp tẻ lẫn lộn, cùng phần nhân là đường phên và đậu xanh. Bên cạnh đó còn sử dụng gừng và đậu phộng .
  • Hình thức của bánh: Bánh màu trắng đục, mềm dẻo, hình tròn.
  • Cách làm bánh trôi nước: Lớp bên ngoài của bánh, lớp vỏ cần được nhào nặn mịn màng, kĩ càng, bên trong đậu xanh tán nhuyễn nấu cùng đường phên, tạo thành nhân màu đậu màu đỏ. Trong lúc gói bánh, cũng thể hiện rõ nhất cái tài tình của người làm bánh. Cần nặn sao cho, vỏ bánh và nhân bánh tròn đều, không vỡ nát. Quá trình luộc bánh, bánh chìm nổi một khoảng nhất định thì vớt bánh ra, tránh để bánh chín quá lâu, bánh bị vỡ. Như vậy, quá trình hình thành cho đến thành quả của bánh trôi nước được Hồ Xuân Hương miêu tả chỉ trong bốn câu thơ bảy chữ, nhưng lại bao hàm tất cả khâu chuẩn bị, nguyên liệu cho đến cách làm, cách luộc bánh sao cho đúng cách.

Hình ảnh người phụ nữ:

  • Hình ảnh người phụ nữ hiện lên thông qua sự ẩn dụ của nữ sĩ khi nói về bánh trôi nước, hay chính là nói về cuộc đời của người phụ nữ.
  • Hình ảnh bên ngoài của bánh với màu trắng, cùng sự tròn trịa; chính là nói lên vẻ đẹp của người phụ nữ. Họ không chỉ đẹp, mà còn vẹn sắc, vẹn tài. Ấy vậy mà “bảy nổi ba chìm” lại nhấn chìm cái đẹp, cái tài của họ, khiến họ trở thành những người bấp bênh, vô định trước cuộc đời. “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”: là sự buông lỏng, sự buông lơi thân mình cho số phận cho người đời thả sức quyết định. Giữa sự bất công của cuộc đời, “thân em” đã không còn đau đáu tình yêu, không còn muốn bứt phá rào cản, em chỉ muốn giữ vững lại chút mong manh, tài hạnh cuối cùng của mình.
  • Để rồi câu kết thúc bài thơ hiện lên: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son” chính là khẳng định cho phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ trong xã hội cũ. Dù chịu mọi dày vò của sự bất công, dù bấp bênh, vô định của xã hội, thì em vẫn luôn giữ cho mình sự thuỷ chung son sắc. Vẫn luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp của mình. Câu thơ cũng là sự ngợi ca tấm lòng son sắc thủy chung của người phụ nữ xưa, ca ngợi những đức hạnh tốt đẹp của người phụ nữ.

=> Như vậy, hai hình ảnh tưởng không đồng điệu mà lại tương đồng nhau, tạo nên vẻ đẹp tuyệt diệu cho bài thơ. Bằng cách liên tưởng hết sức táo bạo và độc đáo, Xuân Quỳnh hoà quyện hai hình ảnh ấy lại với nhau, rồi từ đó vừa làm nổi bật món ăn dân gian, vừa làm khắc sâu trong lòng mỗi người về hình ảnh người phụ nữ công – dung – ngôn – hạnh.

Trên đây là bài tham khảo về biện pháp nghệ thuật trong bài thơ “Bánh trôi nước “ của Xuân Quỳnh. Hi vọng sẽ giúp ích cho các bạn. Chúc các bạn học tập vui vẻ.

Xem thêm: Dàn ý tả cây phượng hay đầy đủ và ý nghĩa nhất

Ngữ Văn Lớp 7

Đăng bởi: Tân Bách Khoa

Chuyên mục Hỏi đáp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button