Hỏi đáp

Câu nghi vấn là gì? Định nghĩa và cách phân biệt câu nghi vấn

Câu nghi vấn là gì? Định nghĩa và cách phân biệt câu nghi vấn

Câu nghi vấn là gì? Tìm hiểu khái niệm, định nghĩa, cách phân biệt, chức năng của câu nghi vấn và các câu nghi vấn hay gặp trong văn học.

Ở trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt được chia thành rất nhiều loại câu khác nhau. Trong đó chúng ta có thể kể đến một số loại câu phổ biến như: câu cảm thán, câu cầu khiến, câu trần thuật, câu đặc biệt, câu nghi vấn. Chúng ta không thể nào không nhắc đến loại câu nghi vấn. Câu nghi vấn là loại câu chúng ta hay sử dụng trong cuộc sống hằng ngày nên chúng gần gũi hơn bao giờ hết. Tại nội dung bài viết sau sẽ giúp bạn tìm hiểu câu nghi vấn là gì và loại câu này có chức năng như thế nào. Hãy cùng tìm hiểu và đừng bỏ lỡ nhé!

Nắm bắt khái niệm về câu nghi vấn 

Định nghĩa câu nghi vấn 

Câu nghi vấn là gì là một khái niệm đã được sách giáo khoa nêu rõ, theo đó chúng ta có thể nắm bắt một cách cụ thể như sau. Đây là loại câu được sử dụng để hỏi đáp về những điều chưa biết. Hầu hết nó sẽ nếu lên những quan điểm của bản thân hoặc một sự vật, hiện tượng. Nhưng quan điểm này sẽ phải dựa vào suy điểm hoặc là không chắc chắn. 

Cách nhận biết câu nghi vấn chính là sự xuất hiện của những từ để hỏi. Ví dụ như: sao, ai, bao lâu, bao nhiêu,…thường sẽ được kết thúc bằng dấu chấm hỏi. 

Chẳng hạn như:

  • Mai bạn đã đi học chưa
  • Mày đã mua quần áo chưa
  • Bao nhiêu lâu nữa chúng ta mới gặp lại nhau

Cách phân biệt câu nghi vấn có từ nghi vấn với từ phiếm định 

Hiện nay, chúng ta và đặc biệt là các bạn học sinh bị nhầm lẫn với các câu như ai, đâu, nào, gì,…có ở trong câu thì đều là câu nghi vấn. Nhưng cần phải đặt ở trong hoàn cảnh và ngữ nghĩa cụ thể. Từ đó mới phân biệt được chúng thuộc vào từ nghi vấn hay phiếm định. 

Những từ nghi vấn có thể hiện điều chưa chắc chắn cần phải được giải đáp của chủ thể. Còn đối với đại từ phiếm từ dùng để chỉ một nhân vật không cụ thể nào đó ở trong không gian, thời gian cũng không được xác định. 

Ví dụ như: “ Điều gì đối với chúng ta đều rất quan trọng” sẽ khác với câu “ Bạn có biết điều gì về cô ấy” 

Từ “ điều gì” ở trong câu thứ nhất chính là đại từ phiếm định để chỉ về một sự việc không được xác định chung chung. Còn “ gì” ở trong câu thứ hai chính là từ nghi vấn có mục đích chính là để xác định về đặc điểm của chủ thể đã được hỏi đến trong câu. 

Khi kết hợp ở trong một số những trường hợp cụ thể có thể đây là từ nghi vấn trong cách kết hợp thì nó lại trở thành từ phiếm định. Ví dụ như:

  • Gì, nào, ai, đâu,..được đứng sau từ phủ định “ không, chẳng” tạo nen từ phiếm định. 
  • “ Ai, gì, nào, đấu,… được đứng trước từ phủ định “ không, chẳng” sẽ tạo thành từ nghi vấn. 

Ví dụ như:

“ Không ai thích nó cả” – “ Ai không thích nó” 

Trong câu 1 từ “ ai” là từ phiếm định, từ “ ai” trong câu 2 là từ nghi vấn 

“ Nó không muốn ăn gì cả” – “ Cái gì nó không ăn”

“ Cô ấy chẳng bao giờ đi chơi cả” – “ Bao giờ cô ấy chẳng đi chơi”

Khi kết câu đôi ứng: ai … nấy, nào … nấy, đâu … đấy đều là những từ mang ý nghĩa phiếm định. 

Ví dụ như: Ai nấy đều đi chơi/ Ở đâu có bạn thì ở đấy có tớ/ Ai nói gì làm nấy,…

Ở trong trường hợp có những câu lặp lại “ đâu đâu”, “ gì gì”,…Cũng không bao giờ trở thành câu nghi vấn. 

Ví dụ như: Cô ấy cứ đi đâu đâu/ Cô ấy hay nói những chuyện gì gì thôi,…

Câu nghi vấn có chức năng như thế nào?

  • Câu nghi vấn có chức năng để hỏi 

Câu nghi vấn sẽ là một dạng nằm trong câu hỏi nên chức năng chính của câu đó là để dùng để hỏi. Đây là sự thể hiện một nghi ngờ không chắc chắn là để cần xác định lại. 

Chẳng hạn như: Cô ăn cơm rồi à?

Chị viết bài này chăng?

  • Câu nghi vấn có chức năng là cầu khiến 

Câu nghi vấn ngoài chức năng để dùng để hỏi thì loại câu này còn dùng để câu cầu khiến. Những yêu cầu thực hiện một việc nào đó và chức năng này rất khó có thể nhận ra. Chính vì vậy cần phải đặt ở trong một hoàn cảnh cụ thể để gọi đúng cho chức năng của chúng. 

Chẳng hạn như:  “Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu! Mau!”

(Ngô Tất Tố)

Trong câu nghi vấn này “ còn sống đấy à” được xuất hiện đảm bảo chức năng của câu cầu khiến. “ Ông” không phải là câu để hỏi với mục đích xem nhân vật anh nông dân chưa chết mà “ ông” này muốn anh ta nộp sưu thuế. 

  • Câu nghi vấn có chức năng dùng để khẳng định 

Câu nghi vấn này sử dụng để khẳng định một điều gì đấy khi một sự việc đã xảy ra. 

Chẳng hạn như: “Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nữa, nên mới lôi thôi như thế. Chứ cháu có dám bỏ bê tiền sưu của nhà nước đâu? Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất…”

(Ngô Tất Tố)

Trong đoạn văn trên câu nghi vấn “ chứ cháu có dám bỏ bê tiền sưu của nhà nước đâu” điều này đã thể hiện việc chị Dậu đã khẳng định mình là không dám trốn thuế và sẽ thực hiện việc trả thuế. 

  • Câu nghi vấn có chức năng phủ định 

Câu nghi vấn có chức năng phủ định được sử dụng để loại bỏ hay bác bỏ một ý kiến nào đó đã được nêu ra. 

Chẳng hạn như: “Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn?”

(Nam Cao)

Trong câu trên, hình thức nghi vấn chính đó là “ ai mà chả phải buồn” đảm nhiệm chức năng phủ định. 

  • Câu nghi vấn có chức năng bộc lộ cảm xúc 

Câu nghi vấn có chức năng bộc lộ cảm xúc – được sử dụng phổ biến nhất trong các câu để sáng tác thơ văn. Từ đó nhằm bộc lộ cảm xúc của người viết/ người nói. Đó có thể là trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên hoặc là xót xa, tiếc nuối. 

Chẳng hạn như: “Mẹ ơi! Con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế? Mãi không về! Người ta đánh con vì con dám cướp lại đồ chơi của con mà con người ta giằng lấy. Người ta lại còn chửi con, chửi cả mẹ nữa! Mẹ xa con, mẹ có biết không?”

(Nguyên Hồng)

Câu nghi vấn trên có chức năng phổ biến nhất đó là dùng để sáng tác trong thơ văn để nhằm bộc lộc cảm xúc chính của tác giả. Đây có thể là cảm xúc ngạc nhiên, vui, buồn hay tức giận, xót xa, tiếc nuối,..

Chẳng hạn như:  “Mẹ ơi! Con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế? Mãi không về! Người ta đánh con vì con dám cướp lại đồ chơi của con mà con người ta giằng lấy. Người ta lại còn chửi con, chửi cả mẹ nữa! Mẹ xa con, mẹ có biết không?”

(Trích trong lòng mẹ – Nguyên Hồng)

Đoạn văn trên được trích trong đoạn “ trong lòng mẹ” nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn văn này có hàng loạt những câu hỏi nghi vấn dùng để bày tỏ tâm tư tình cảm của chính tác giả “ Sao mẹ đi lâu thế”, “ mẹ xa con”, “ mẹ có biết không?”. Đây là những câu nghi vấn đã được đặt ra đây là nỗi lòng chất chứa của người con mang trong mình một nỗi nhớ mẹ đau đáu và tha thiết. Như một đứa trẻ khác thì đây chắc phải đau khổ lắm thì mới có thể thốt lên những câu hỏi có chứa đựng nhiều cảm xúc khiến cho cõi lòng trở nên tan nát như vậy. 

Những câu nghi vấn xuất hiện trong tác phẩm văn học

Ở trong các tác phẩm văn chương hay thơ cả của tác giả được sử dụng những biện pháp tư từ để có thể tăng thêm tính hiệu quả trong chính tác phẩm của mình. Câu nghi vấn sẽ được xem là một biện pháp tu từ cực hữu hiệu trong việc thể hiện tình cảm, tâm tư. Từ đó có thể bộc lộc cảm xúc của chủ thể và trong đó được biết đến là câu hỏi tu từ. 

Ở trong bài thơ “ ông đồ” của Vũ Đình Liên đã viết rằng. 

“Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực Tàu, giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?”

Khi kết thúc bài thơ, tác giả được sử dụng một câu hỏi tu từ “ hồn ở đâu bây giờ”. Ở cả bài thơ là một nỗi niềm chất chức chính là nét đẹp văn hóa truyền thống để viết thư pháp ở trong các dịp lễ tết của người dân Việt Nam. Tuy nhiên những nét đẹp này đang ngày càng mai một đi. Từ đó ông đồ cũng dần bị lãng quên “ hồn ở đâu bây giờ”. Đây là sự kết thúc của một chuỗi hoài niệm xưa cũ, thậm chí đây còn là tiếng thở dài ngao ngán cho một tài năng, nét đẹp cho cái “ hôn” của truyền thống giờ biết tìm nơi đâu. 

Tuy nhiên cũng là một câu nghi vấn dùng để bộc lộ cảm xúc được thể hiện ở trong bài thơ “ nhớ rừng” của Thế Lữ. 

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

Ở trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng câu nghi vấn như một phép tu từ được sử dụng chính trong khổ thơ. Nhằm thể hiện được cảm xúc nuối tiếc và căm hờn về một quá khứ oanh liệt đã đi qua. Nếu không có câu nghi vấn cuối cùng “ thời oanh liệt nay còn đâu” thì chính cảm xúc của bài thơ cũng chưa đẩy lên đỉnh điểm. 

Theo đó, chúng ta có thể hiểu câu nghi vấn sẽ có những tác dụng như thế nào ở trong câu. Tuy nhiên sẽ rất ít ai có thể biết rằng chúng được sử dụng trong thơ và và văn chương như thế nào. Điều đơn giản đó là bộc lộ chính cảm xúc chính của tác giả. Chúng đã được khai thác một cách hoàn hảo để bày tỏ được chính cảm xúc tâm tư, tình cảm của mình một cách rõ nhất. 

Hy vọng với giải đáp câu nghi vấn là gì đã giúp bạn có một cái nhìn chi tiết hơn về thể loại câu này. Mong rằng với những kiến thức trên đã giúp bạn có thể áp dụng để giải bài tập một cách đúng đắn và chính xác nhất.

Xem thêm: Câu đặc biệt là gì? Câu rút gọn là gì? Định nghĩa và nêu ví dụ

Thuật ngữ

Đăng bởi: Tân Bách Khoa

Chuyên mục Hỏi đáp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button